Bởi Học văn cô Hà Huyền | 22/03/2024 0 bình luận

Từ đồng âm Lý thuyết Từ đồng âm là những từ giống nhau về âm thanh nhưng khác nhau về nghĩa, không liên quan gì đến nhau. Muốn xác định được từ đồng âm thì phải dựa vào ngữ cảnh Ví dụ: Trên đường (1) đi học về tôi mua cho mẹ 1 kg đường (2) Thực hành Bài 1 Giải thích các từ đồng âm sau đây: a Con ngựa đá (1) con ngựa đá (2) b                                                        Bà già đi chợ cầu Đông Bói xem một quẻ lấy chồng lợi (1) chăng Thầy bói gieo quẻ nói rằng Lợi thì có lợi (2) nhưng răng chẳng còn                                            (Ca dao) Bài 2 Lấy hai ví dụ từ đồng âm với từ Bàn Bài 3 Điền các từ sau vào chỗ chấm: Chung quy, chung nhau, chung chung. …(1) Có nghĩa là khái quát, không rõ ràng còn mơ hồ …(2) Có nghĩa là điểm kết thúc hoặc quyết định của một việc gì đó …(3) Có nghĩa là cùng hướng đến một mục tiêu cùng, tang cường mối quan hệ gắn kết Hướng dẫn giải bài tâp Bài 1 a Đá (1) động từ chỉ hành động của con ngựa thật     Đá (2) danh từ chỉ con ngựa bằng đá     Lợi (1) chỉ ích lợi, phúc lợi, được lợi     Lợi (2) chỉ bộ phận của con người, phần thịt chỗ mọc răng ở hàm Bài 2   - Họ đang bàn việc trên bàn mới mua - Quả bóng bàn lăn trên bàn Bài 3 (1) Chung chung, (2) chung quy, (3) chung nhau

Đọc tiếp
Bởi Học văn cô Hà Huyền | 22/03/2024 0 bình luận

Từ nhiều nghĩa và hiện tượng chuyển nghĩa của từ Lý thuyết Từ nhiều nghĩa là từ có nhiều nghĩa khác nhau Ví dụ: Bàn, quần, áo, tay, chân… Hiện tượng chuyển nghĩa của từ là hiện tượng làm thay đổi nghĩa của từ tạo ra những từ nhiều nghĩa. Trong từ nhiều nghĩa có nghĩa gốc và nghĩa chuyển, Nghĩa gốc là nghĩa xuất hiện từ đầu là cơ sở để hình thành nghĩa khác. Nghĩa chuyển là nghĩa được hình thành trên cơ sở nghĩa gốc. Ví dụ: Lưng núi thì to, mà lưng mẹ thì nhỏ Từ lưng trong lưng núi là nghĩa chuyển (phần giữa hơi thoải của núi, từ lưng trong lưng mẹ dùng với nghĩa gốc (lưng bộ phận trên cơ thể người) Thực hành Bài 1 Em hãy cho biết từ Xuân trong câu thơ dưới đây đâu là nghĩa gốc, đâu là nghĩa chuyển. Việc sử dụng từ xuân trong câu thứ 2 có ý nghĩa gì? Mùa xuân là Tết trồng cây Làm cho đất nước càng ngày càng xuân                                             (Hồ Chí Minh) Bài 2 Trong câu sau đây, từ “Quạt” là từ nhiều nghĩa hay chuyển nghĩa của từ? Vì sao? Quạt nan mỏng dính Quạt gió rất dày                                            (Gió từ tay mẹ- Vương Trọng) Bài 3 Giải thích nghĩa của từ báo trong câu sau: a Ở vườn thú có Báo b Tôi vừa nhận được thông báo c Tôi từng học Báo chí Hướng dẫn giải bài tập Bài 1 Xuân trong từ mùa Xuân là nghĩa gốc, chỉ mùa của năm theo chu kỳ của Trái Đất, mùa xuân dánh dấu sự tái sinh, phục hồi của thiên nhiên sau mùa đông lạnh giá. Xuân trong từ càng xuân là nghĩa chuyển (ẩn dụ) chỉ tinh thần lạc quan, hy vọng và khởi đầu mới cho đất nước tươi trẻ, năng động và phát triển hơn. Ý nghĩa của việc sử dụng từ xuân trong câu thứ 2: Đây là phép ẩn dụ giúp thể hiện ý nghĩa cao đẹp của sự phát triển và tiến bộ, tạo nên hình ảnh rõ nét về sự phát triển của đất nước. Làm cho câu thơ tăng sức hấp dẫn và giàu sức gợi cảm Bài 2   Quạt là từ nhiều nghĩa Quạt trong câu 1 chỉ danh từ cái quat, nó thuộc đồ vật được con người tạo ra Quạt trong câu 2 chỉ quạt tự nhiên, quạt này phải có tác động của gió tự nhiên, về mặt bản chất nó mát hơn quạt nan quạt bầng tay. Bài 3  a Báo là con vật b Báo là sự thông báo thông tin nào đó cho người khác c Báo chỉ nghề làm báo, chuyên ngành báo

Đọc tiếp
Bởi Học văn cô Hà Huyền | 21/03/2024 0 bình luận

Nghĩa của từ Lý thuyết Nghĩa của từ là nội dung, tính chất, hoat động, quan hệ mà từ đó biểu thị. Hiểu đơn giản, nghĩa của từ là phần nội dung mà từ biểu thị giúp chúng ta hiểu được nội dung của từ đó. Ví dụ:  Mẹ là người phụ nữ có con Mệt là cảm giác mệt mỏi, mệt nhọc không còn đủ năng lượng để hoạt động Thực hành Bài 1 Giải thích nghĩa của các từ sau: Mù mịt, háo hức, tổng kết, múa Bài 2 Điền các từ sau vào chỗ trống sao cho thích hợp: Chung quy, chung kết, chung thành (1) ... Là điểm cuối cùng quan trọng của một chương trình, một dự án hoặc một quá trình nào đó (2) … là tinh thần đoàn kết, tin tưởng lòng thành với một cá nhân hay tập thể (3) …là điểm cuối cùng hoặc kết quả của cuộc tranh luận, thương thảo Bài 3 Điền các từ sau vào chỗ trống sao cho thích hợp; Rạo rực, hồng hồng, man mác, mùa xuân, đùng đục, mướt xanh, siêng năng, trong trong, trời Đẹp quá đi, mùa xuân ơi- mùa xuân của Hà Nội thân yêu, của Bắc Việt thương mến. Nhưng tôi yêu (1) … nhất là vào khoảng sau ngày rằm tháng riêng. Tết hết mà chưa hết hẳn, đào hơi phai nhưng nhụy vẫn còn phong, cỏ không (2) …như cuối đông, đầu giêng, nhưng trái lại lại nức một mùi hương (3) … Thường thường, vào khoảng đó (4) … đã hết nồm, mưa xuân bát đầu thay thế cho mưa phùn, không còn làm cho nên trời (5) … như màu pha lê mờ. Sáng dậy, nằm dài nhìn ra cửa sổ thấy những vệt xanh tươi hiện ở trên trời, mình cảm thấy (6) …có niềm vui sáng sủa. Trên giàn hoa lý, vài con ong (7) … đã bay đi kiếm nhị hoa. Chỉ độ tám chín giờ sáng, trên nền tròi (8) … có những làn sáng (9) … rung dộng như cánh con ve sầu mới lột.                                                                                   (Vũ Bằng, Thương nhớ mười hai) Hướng dẫn giải bài tập Bài 1 Mù mịt tức là không rõ ràng, không rõ nét, ám chỉ sự thiếu tầm nhìn, mơ hồ không rõ rang trong tầm nhìn hoặc trong suy nghĩ Hát là hoạt động phát ra âm thanh theo tiết tấu hoặc nhịp điệu để truyền đạt một thông điệp hoặc mang tính giải trí Háo hức là trạng thái diễn tả cảm xúc phấn khích trước một hoạt động hay tình huống sắp diễn ra Tổng kết là tổng hợp lại một loạt các thông tin dữ liệu, sự kiện để tạo ra một cái nhìn tổng thể hoặc đánh giá chung về một chủ đề, một quá trình nào đó. Bài 2 (1) Chung kết (2) Chung thành (3) Chung quy Bài 3 (1) Mùa Xuân (2) mướt xanh (3) man mát (4) trời (5) đùng đục (6) rạo rực (7) siêng năng, (8) trong trong (9) hồng hồng.

Đọc tiếp
Bởi Học văn cô Hà Huyền | 21/03/2024 0 bình luận

Phân biệt giữa từ ghép và từ láy + Từ ghép có thể đảo ngược các yếu tố trong từ, còn từ láy thì không, bởi từ láy thường có yếu tố gốc như long lanh, bấp bênh… Còn những từ sau: thẫn thờ, tha thiết, thì thầm… là từ ghép. Bên cạnh đó có những từ không thể đảo ngược về trật tự nhưng xét về nghĩa của các yếu tố thì từ đó vẫn được gọi là từ ghép: Đất đai, thành thực, đu đưa, đình đốn, ruộng rẫy… Có những trường hợp đặc biệt thì từ láy vẫn có thể đảo ngược được ví dụ: Khắt khe- khe khắt, lừng lẫy- lẫy lừng + Từ láy là từ không đảo được các yếu tố trong hai yếu tố (tiếng) có một yếu tố có ý nghĩa (gốc) Ví dụ: loanh quanh, om sòm… + Các từ Hán Việt trùng lặp về ngữ âm nhưng chỉ là từ ghép mà không phải là từ láy: Vĩnh viễn, liên miên, tham lam, nhũng nhiễu, nhã nhặn, hải hà, linh tinh, khao khát… 1.2 Thực hành Bài 1. Tìm các từ láy trong đoạn thơ sau: Chú bé loắt choắt Cái xắc xinh xinh Cái chân thoăn thoắt Cái đầu nghênh nghênh  (Tố Hữu) Bài 2. Đâu là từ láy, đâu là từ ghép trong những từ sau: Mấp mô, vùng vẫy, đả đảo, tấp nập, loanh quanh, xinh xinh, tha thiết, lao xao, thăm thẳm, mù mịt, náo nức, lênh khênh, tỉ mỉ, trong trắng. Bài 3. Sắp xếp các từ láy sau vào ba nhóm khác nhau, đặt tên cho mỗi nhóm: lom khom, lù dù, tập tễnh, lọ mọ, lao xao, bâng khuâng, bồn chồn, háo hức, rì rầm, tí tách, ríu rít Bài 4. Điền thêm các tiếng vào các tiếng dưới đây để tạo thành từ ghép chính phụ: Xe..., máy…., bàn…., áo..., bút…. Bài 5. Điền các từ láy sau vào chỗ trống trong đoạn văn dưới đây sao cho thích hợp: Nghiêng nghiêng, rong ruổi, vun vút, ngại ngùng, khát khao, xinh xinh, Những con đường ngút ngàn xa thẳm bỗng như dài ra, tự dãn ra làm (1)…những bước chân (2) ... Mong sao có những bóng da bóng bang những mái quán (3) … Bên bờ cỏ ấy, để bước chân dặm trường ghé vào uống bát nước chè xanh, ăn món bánh đúc riêu cua đầy vị quê hương đang chìm lấp. Hình như nhạc sĩ ve sầu không thích đậu vào cây lúa. Có khi là phải có những chiếc lá xanh to bản bắt nhịp thì nhạc ve mới thành giai diệu du dương? Những dòng sông đào (4) … nhỏ bé, những măt ao đầy bèo tấm, bèo ong là nỗi (5) …thèm thuồng của bao hành khách ngồi bó gối trong xe trên đường ngắn đường dài (6) … gần xa. (Băng Sơn, Mùa lên đường) 1.3 Hướng dẫn giải bài tập Bài 1: Loắt choắt, xinh xinh, thoăn thoắt, nghênh nghênh Bài 2: Từ láy; loanh quanh, xinh xinh, tha thiết, lao xao, lênh khênh, Từ ghép: Mấp mô, vùng vẫy, đả đảo, tấp nập, trong trắng, tỉ mỉ, thăm thẳm, náo nức, mù mịt Bài 3: Để phân nhóm đúng cần hiểu kỹ ý nghĩa của từ láy Nhóm 1: Gợi tả âm thanh: lao xao, rì rầm, tí tách, ríu rít Nhóm 2; Gợi tả dáng vẻ, hình dáng: lom khom, lù dù, tập tễnh, lọ mọ Nhóm 3: Gợi tả tâm trạng: bồn chồn, háo hức, bâng khuâng Bài 4: (1) ngại ngùng, 2 rong ruổi, 3 nghiêng nghiêng, 4 xinh xinh, 5 khát khao, 6 vun vút

Đọc tiếp
Bởi Học văn cô Hà Huyền | 07/01/2024 0 bình luận

Từ đồng nghĩa 4.1 Lý thuyết Từ đồng nghĩa là những từ có nghĩa giống nhau hoặc gần giống nhau Ví dụ: Bố- Ba- Cha Một từ có thể có nhiều nghĩa nên có thể tham gia vào nhiều nhóm đồng nghĩa khác nhau. Nếu biết cách sử dụng từ đồng nghĩa đúng chỗ sẽ giúp cách diễn đạt trôi chảy và không lặp từ. 4.2 Thực hành Bài 1: Tìm các từ đồng nghĩa với các từ sau: a. cho b. ngã c.uống Bài 2: Hai từ in đậm dưới đây có gì giống nhau? Việc sử dụng hai từ ấy có tác dụng gì? a.                                                       Bác đã đi rồi sao, Bác ơi! Mùa thu đang đẹp, nắng xanh trời (Tố Hữu) b.                                                     Bác Dương thôi đã thôi rồi, Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta (Nguyễn Khuyến) Bài 3: Phân biệt nghĩa của các từ trong nhóm sau a. Nhanh trí, nhanh nhẹn, nhanh nhẩu b. Thông minh, khôn, sáng suốt 4.3 Hướng dẫn giải bài tập Bài 1: a. Cho, tặng, biếu: Những từ này chỉ hành động đưa vật nào đó cho người khác một cách chủ động b. Ngã, té, trượt: Chỉ hành động mất thăng bằng, không giữ được ở một vị trí cố định c. Uống, tu, nốc: Chỉ hành động đưa chất lỏng vào miệng để uống nhưng ở mức độ khác nhau Bài 2: Hai từ đi, thôi đều chỉ về cái chết, mất mát, việc chấm hơi thở Tác dụng sử dụng hai từ ấy có ý nghĩa nói giảm, nói tránh những mất mát đau thương Bài 3: a. Nhanh trí chỉ khả năng suy nghĩ của một người thường có ý tưởng nhanh chóng Nhanh nhẹn chỉ thao tác của một người linh loạt, chính xác Nhanh nhẩu được miêu tả về tốc độ, nhanh chóng trong hành động hoặc phản ứng trong tinh huống nào đó Những từ này đều chỉ tốc độ và tính cách con người có phản xạ nhanh trong mọi tình huống b. Thông minh là từ miêu tả chỉ khả năng hiểu nhanh, giải quyết vấn đề nhanh chóng Khôn chỉ trí thông minh sắc bén, khả năng suy nghĩ tốt, đánh giá và giải quyết vấn đề hiệu quả Sáng suốt là khả năng nhận thức, suy đoán đánh giá tình huống một cách chính xác.Những từ này đều liên quan đến trí thông minh, khả năng suy nghĩ và giải quyết vấn đề một cách hiệu quả

Đọc tiếp
Bởi Học văn cô Hà Huyền | 07/01/2024 0 bình luận

Bài 1. Tìm các từ láy trong đoạn thơ sau: Chú bé loắt choắt Cái xắc xinh xinh Cái chân thoăn thoắt Cái đầu nghênh nghênh  (Tố Hữu) Bài 2. Đâu là từ láy, đâu là từ ghép trong những từ sau: Mấp mô, vùng vẫy, đả đảo, tấp nập, loanh quanh, xinh xinh, tha thiết, lao xao, thăm thẳm, mù mịt, náo nức, lênh khênh, tỉ mỉ, trong trắng. Bài 3. Sắp xếp các từ láy sau vào ba nhóm khác nhau, đặt tên cho mỗi nhóm: lom khom, lù dù, tập tễnh, lọ mọ, lao xao, bâng khuâng, bồn chồn, háo hức, rì rầm, tí tách, ríu rít Bài 4. Điền thêm các tiếng vào các tiếng dưới đây để tạo thành từ ghép chính phụ: Xe..., máy…., bàn…., áo..., bút…. Bài 5.  Tìm các từ láy trong đoạn văn sau.             Những con đường ngút ngàn xa thẳm bỗng như dài ra, tự dãn ra làm ngại ngùng  những bước chân rong ruổi. Mong sao có những bóng da bóng bàng, những mái quán nghiêng nghiêng bên bờ cỏ ấy, để bước chân dặm trường ghé vào uống bát nước chè xanh, ăn món bánh đúc riêu cua đầy vị quê hương đang chìm lấp. Hình như nhạc sĩ ve sầu không thích đậu vào cây lúa. Có khi là phải có những chiếc lá xanh to bản bắt nhịp thì nhạc ve mới thành giai điệu du dương? Những dòng sông đào xinh xinh nhỏ bé, những mặt ao đầy bèo tấm, bèo ong là nỗi khát khao thèm thuồng của bao hành khách ngồi bó gối trong xe trên đường ngắn đường dài vun vút gần xa.   1.3 Hướng dẫn giải bài tập Bài 1: Loắt choắt, xinh xinh, thoăn thoắt, nghênh nghênh Bài 2: Từ láy; loanh quanh, xinh xinh, tha thiết, lao xao, lênh khênh, Từ ghép: Mấp mô, vùng vẫy, đả đảo, tấp nập, trong trắng, tỉ mỉ, thăm thẳm, náo nức, mù mịt Bài 3: Để phân nhóm đúng cần hiểu kỹ ý nghĩa của từ láy Nhóm 1: Gợi tả âm thanh: lao xao, rì rầm, tí tách, ríu rít Nhóm 2; Gợi tả dáng vẻ, hình dáng: lom khom, lù dù, tập tễnh, lọ mọ Nhóm 3: Gợi tả tâm trạng: bồn chồn, háo hức, bâng khuâng Bài 5: 1 ngại ngùng, 2 rong ruổi, 3 nghiêng nghiêng, 4 xinh xinh, 5 khát khao, 6 vun vút

Đọc tiếp
Bởi Học văn cô Hà Huyền | 06/01/2024 0 bình luận

Phương pháp làm bài đọc hiểu Yêu cầu của phần đọc hiểu phải đảm bảo được mức độ: Nhận biết- Thông hiểu-Vận dụng a. Nhận biết: Các câu hỏi được lấy từ văn bản với những yêu cầu thường đi kèm cụm từ “nêu ra, chỉ ra, xác định đối với các nội dung + Nêu phương thức biểu đạt + Nêu nội dung đoạn trích +  Nêu thể loại văn bản + Nếu tác giả, tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác… + Xác định kiểu câu + Xác định từ loại, cụm từ, biện pháp tu từ + Xác định phương thức biểu đạt + Xác định, giải thích nội dung của câu thơ, đoạn thơ + Xác dịnh nhân vật và phân tích đặc điểm của nhân vật + Xác định thông tin được thể hiện, phẩn ánh trực tiếp trong văn bản + Chỉ ra tính liên kết của đoạn văn + Chỉ ra điểm chung và điểm khác biệt về nội dungg b. Thông hiểu: Các yêu cầu thường đi kèm cụm từ: “Vì sao, tại sao, lý giải, giải thích…” như: + Giải thích ý nghĩa nhan đề + Giải thích cụm từ… + Rút ra bài học hoặc thông điệp có ý nghĩaa… c. Vận dụng: Đây là phần yêu cầu có sự tư duy và tính sáng tạo, học sinh phải biết vận dụng những kiến thức từ đoạn trích, ngữ liệu để giải thích các vấn đề và biết nêu lên quan điểm bản thân. Các yêu cầu thường đi kèm cụm từ: “Cảm nhận, suy nghĩ, đánh giá…”

Đọc tiếp
Bởi Học văn cô Hà Huyền | 06/01/2024 0 bình luận

Cách Làm bài đọc hiểu văn bản 1. Văn bản văn học - Đặc điểm ngôn từ: Ngôn từ trong văn bản mang tính nghệ thuật và thẩm mỹ để làm bài thêm sống động, cuốn hút và giàu hình tượng. - Đặc điểm về hình tượng: Hình tượng trong văn học là biểu tượng đời sống, hàm chứa ý nghĩa khái quát do tác giả gửi gắm mà người đọc cần phải nhận ra. - Đặc điểm về ý nghĩa; Nó là ý nghĩa trong văn bản, thể hiện hiện thực đời sống được nhà văn nắm bắt và gợi lên qua hình tượng. Ý nghĩa của văn bản văn học còn thể hiện qua nhân vật, sự kiện và những chi tiết mà tác giả sử dụng ngôn từ tạo nên. Những ý nghĩa đó được chia thành các lớp; đề tài, chủ đề, cảm hứng, tính thẩm mỹ, triết lý nhân sinh. - Đặc điểm về phong cách sáng tạo của nhà văn: Mỗi văn bản văn học ra đời đều mang dấu ấn riêng của tác giả, chính những phong cách đó làm cho văn bản văn học hêm phong phú, mới mẻ. => Vì vậy khi đọc hiểu văn bản cần bám sát vào đặc điểm của thể loại, ngôn từ để tìm hiểu hình tượng nghệ thuật mà tác giả khắc họa để hiểu rõ nội dung, ý nghĩa của văn bản. Đồng thời phải so sánh văn bản này với văn bản khác cùng đề tài để thấy được sự độc đáo, mới lạ của nhà văn. 2.Văn bản Nhật dụng Văn bản nhật dụng là văn bản có tính thời sự, quan trọng, bức thiết đối với cuộc sống hàng ngày của con người, của xã hội như; môi trường, dân số, chiến tranh, ứng dụng công nghệ…các văn bản nhật dụng rất đa dạng về đề tài và thể loại. Vì vậy khi đọc hiểu văn bản nhật dụng cần xác định được chủ đề của văn bản, cách thức triển khai để nâng cao ý thức, trách nhiệm bản thân với các vấn đề đời sống xã hội.

Đọc tiếp
Bởi Học văn cô Hà Huyền | 05/12/2023 0 bình luận

Tóm tắt tâm lí  nhân vật ông Hai khi nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc Nhân vật ông Hai trong bài văn thể hiện một tâm trạng đau đớn, uất ức và xấu hổ khi nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc. Mô hình phân tích nhân vật dưới đây giúp đi sâu vào tâm trạng và suy nghĩ của ông Hai trong hoàn cảnh khó khăn này. Tâm trạng sững sờ và xấu hổ Ông Hai trải qua một biến cố lớn từ niềm vui và niềm tin cao quý đột nhiên chuyển thành sự sững sờ, xấu hổ khi nghe làng theo giặc. Tâm trạng của ông lão được miêu tả qua cảm xúc đau lòng, "cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân." Điều này thể hiện sự gián đoạn đau đớn, như một cú sốc tinh thần. Mất niềm tin và uất ức Ông Hai trải qua sự mất mát lớn không chỉ về niềm tự hào của làng mà còn về hạnh phúc cá nhân. Niềm tin, niềm tự hào về làng đột ngột sụp đổ khi ông phải đối mặt với sự thật đau lòng. Sự uất ức và hụt hẫng đẩy ông vào tâm trạng tuyệt vọng. Nỗi ám ảnh và tình trạng bế tắc Tin đồn và nghi ngờ làm ông Hai trở nên ám ảnh. Ông sống trong sự bế tắc, không biết phải làm gì và không có hướng đi rõ ràng. Ông quanh quẩn ở nhà, nghe ngóng tình hình bên ngoài nhưng cảm giác lo lắng và e sợ. Tìm kiếm sự yên bình và quyết đinh khó khăn Ông Hai tìm kiếm sự yên bình và tránh xa khỏi ánh sáng công bố làng. Cuộc sống bình yên của ông bị đảo lộn, và ông trở nên như một người bị tống giam trong chính ngôi nhà của mình, không dám đối diện với thế giới bên ngoài. Lựa chọn giữa ở lại và về quê âm trạng khó khăn và đau đớn của ông được thể hiện qua quá trình ông phải đối mặt với quyết định khó khăn giữa ở lại và về quê. Ông Hai, mặc dù đau khổ, nhưng cuối cùng quyết định ủng hộ Cụ Hồ Chí Minh và kháng chiến, đặt niềm tin của mình vào sự giải phóng và độc lập của đất nước. Tâm hồn thủy chung và sâu sắc Cuộc trò chuyện của ông với con trai thể hiện lòng thủy chung sâu sắc với làng Chợ Dầu và tình yêu với quê hương. Dù đau đớn, ông vẫn giữ vững niềm tin vào kháng chiến và lòng yêu nước, thể hiện vẻ đẹp trong tâm hồn của con người Việt Nam. Trong tất cả, nhân vật ông Hai trong bối cảnh khó khăn này đặt ra những thách thức lớn về tâm trạng và quyết định, nhưng cũng thể hiện sự mạnh mẽ và lòng thủy chung của một người nông dân Việt Nam trước thách thức phải đối mặt.

Đọc tiếp
Bởi Học văn cô Hà Huyền | 30/11/2023 0 bình luận

Đề bài; Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Tuổi trẻ là tuổi của tương lai. Muốn có tương lai tốt đẹp thì phải chiếm lấy bằng ý chí và nghị lực của chính bản thân”. Trình bày quan điểm của anh/chị về vấn đề trên. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại một triết lý quan trọng: "Tuổi trẻ là tuổi của tương lai. Muốn có tương lai tốt đẹp thì phải chiếm lấy bằng ý chí và nghị lực của chính bản thân." Ý chí và nghị lực đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của cá nhân và xã hội. Ý chí là khả năng quyết tâm, chấp nhận thách thức và không ngừng cố gắng để đạt được mục tiêu. Nó không chỉ là sức mạnh cá nhân mà còn là động lực lớn để thay đổi xã hội. Người có ý chí mạnh mẽ thường có tầm nhìn xa, dám đối mặt với khó khăn và không bao giờ từ bỏ trước thử thách.Nghị lực là nguồn động viên, là sức mạnh bên trong giúp con người vượt qua mọi khó khăn. Đó là niềm tin vững chắc và lòng quyết tâm không lùi bước trước những khó khăn. Người có nghị lực mạnh mẽ thường có khả năng phục hồi sau thất bại, tự tin đối mặt với những thách thức lớn. Người có nghị lực sẽ thể hiện sự kiên nhẫn và bền bỉ trong việc đối mặt với những khó khăn, thử thách. Họ không dễ bị làm chán nản hay từ bỏ trước những khó khăn. Nghị lực thường đi kèm với lòng tự tin và tinh thần lạc quan. Những người có nghị lực sẽ nhìn nhận vấn đề từ góc độ tích cực, tìm kiếm giải pháp thay vì chìm đắm trong sự tiêu cực.Nghị lực không phải là việc tránh xa thất bại mà là khả năng đối mặt và học từ thất bại. Những người có nghị lực sẽ sử dụng mọi thất bại như là bước đệm để tiến lên. Trong xã hội ngày nay, ý chí và nghị lực đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng một tương lai tốt đẹp. Những người trẻ hiểu rõ giá trị của ý chí và nghị lực sẽ trở thành những nhà lãnh đạo, những người định hình và đưa đất nước phát triển. Chúng ta có thể thấy rõ sức mạnh của ý chí và nghị lực trong những tấm gương như Chủ tịch Hồ Chí Minh hay Stephen Hawking. Họ đã vượt qua mọi khó khăn, từ những hoàn cảnh khó khăn nhất để trở thành những người nổi tiếng và có ảnh hưởng lớn đối với xã hội. Vì vậy, chúng ta cần khuyến khích và phát triển ý chí, nghị lực ở mỗi cá nhân và đặt chúng vào vị trí quan trọng trong quá trình giáo dục. Bằng cách này, chúng ta sẽ xây dựng được một xã hội mạnh mẽ, đầy năng lượng tích cực và có tương lai tươi sáng.

Đọc tiếp
Bởi Học văn cô Hà Huyền | 23/11/2023 0 bình luận

Viết đoạn văn ngắn khoảng 200 chữ bàn về Bản lĩnh.  Bản lĩnh, khía cạnh tinh thần quan trọng nhất của con người, đóng vai trò to lớn trong việc định hình cuộc sống và đạt đến thành công. Bản lĩnh không chỉ là sự kiên trì và gan dạ để đương đầu với khó khăn, mà còn là khả năng tự lập và quyết định đúng đắn đối với những tình huống phức tạp. Điều này mang lại cho mỗi người một tinh thần độc lập, không dễ dàng biến đổi dưới áp lực bên ngoài. Trong cuộc sống, một con người bản lĩnh không ngần ngại đối mặt với những thử thách khó khăn và không bao giờ từ bỏ trách nhiệm cá nhân. Họ dám nghĩ, dám làm, và từ đó, họ xây dựng lên cho mình một tâm hồn bất khuất, kiên định trước mọi khó khăn. Bản lĩnh giúp họ vượt qua những gian khó, đưa họ đến những đỉnh cao không tưởng. Oprah Winfrey là một minh chứng sống cho sức mạnh của bản lĩnh. Từ môi trường khó khăn, bị xã hội đặt đánh giá thấp, bà đã kiên cường vượt qua mọi khó khăn, từng bước trở thành một tỉ phú và nguồn cảm hứng cho hàng triệu người. Tuy nhiên, đối diện với sự hiện diện của những người thiếu bản lĩnh trong xã hội, người ta thấy rõ sự ngần ngại trước khó khăn, sự ngại khổ và xu hướng đổ lỗi cho số phận. Những người này thường không dám đối mặt với thách thức, và do đó, không thể vươn tới ngưỡng cửa thành công. Vì vậy, mỗi cá nhân cần hiểu rõ giá trị của bản lĩnh và hướng tới việc xây dựng một tâm hồn mạnh mẽ thông qua việc không ngừng trau dồi tri thức, kỹ năng sống, và phát triển nhân cách. Quan trọng hơn cả, đừng lẫn lộn bản lĩnh với sự tự phụ hay bảo thủ. Bản lĩnh là sự hợp nhất của kinh nghiệm, trí tuệ, và đam mê, không phải là sự tự mãn hay đánh mất khả năng học hỏi. Nói một cách đơn giản, bản lĩnh giúp con người tự tin, độc lập, và kiên định trước mọi khó khăn, từ đó tạo nên những cá nhân tích cực đóng góp cho xã hội và xây dựng một cộng đồng mạnh mẽ.

Đọc tiếp
Bởi Học văn cô Hà Huyền | 17/10/2023 0 bình luận

Nêu cảm hứng bao trùm và mạch cảm xúc của bài thơ Viếng Lăng Bác *Cảm hứng bao trùm Bài thờ là niềm xúc động thiêng liêng và thành kính, lòng biết ơn và tự hào pha lẫn nỗi xót thương của nhà thơ khi lần đầu ra thăm Lăng Bác. Cảm hứng đó đã bao trùm toàn bộ bài thơ với giọng điệu thành kính, nghiêm trang phù hợp với không khí thiêng liêng ở Lăng Bác. *Mạch cảm xúc: -Theo trình tự không gian và thờii gian. Cảm xúc đầu tiên chi phối tác giả là khung cảnh xung quanh lăng Bác (nhìn từ xa), ấn tượng nhất là hàng tre bát ngát trong sương. -Tiếp theo là cảnh trước lăng Bác và đoàn người nối nhau như bất tận, ngày ngày vào viếng lăng Bác. -Cảm xúc khi vào lăng, di hài của Bác gợi những hình ảnh đẹp mang ý nghĩa biểu trưng; mặt trời, trời xanh. - Cuối cùng là cảm xúc khi sắp phải rời xa Bác trở về miền Nam =>Mạch cảm xúc đã tạo nên bố cục của bài thơ rõ ràng, mạch lạc và hơp lí.

Đọc tiếp
Bởi Học văn cô Hà Huyền | 11/10/2023 0 bình luận

Cho câu  “Bà là người nhóm lửa, giữ lửa và truyền lửa”. trong bếp lửa của Bằng Việt. Lấy câu văn trên là câu mở đoạn, em hãy viết tiếp 10-12 câu để hoàn chỉnh đoạn văn theo phương thức tổng - phân - hợp nêu cảm nhận về người bà trong bài thơ. Đoạn văn có sử dụng thành phần cảm thán, gạch chân câu cảm thán đó.  Học sinh cần viết theo dung lượng và yêu cầu của đề bài là đoạn văn, viết theo phương thức tổng phân hợp và có sử dụng câu cảm thán. Bà là người nhóm lửa, giữ lửa và truyền lửa. Bà vẫn tiếp tục nhóm lên ngọn lửa của yêu thương, của sẻ chia ấm áp để đem lại một bầu trời tuổi thơ yên bình cho cháu. Tất cả tình cảm ấy đều là những điều thiêng liêng không ai gọi tên được bao giờ, nó thật cảm đông biết bao!. Ngọn lửa bà trao cho cháu được cháu giữ vẹn nguyên để trở thành ngọn lửa trườn g tồn, bất diệt. Nội dung tư tưởng của “Bếp lửa” được thể hiện sâu sắc hơn n hờ những hình ảnh thơ sinh động, giàu sức liên tưởng: “bếp lửa chờn vờ n sương sớm”, “bếp lửa ấp iu nồng đượ m”,…cùng với đó là điệp từ “nhóm” đặc biệt được sử dụng ở cuối bài thơ. Nhưng quan trọng hơn tất cả là cảm xúc chân thành và lòng yêu mến vô bờ của nhà thơ đối với người bà kín h yêu của mình. Đọc và cảm nhận tình yêu thương chan chứa tron g bài thơ “Bếp lửa”, chúng ta thấy yêu hơn, trân trọng hơn “ngọn lửa” trong gia đình và những người thân yêu bên cạnh chúng ta.

Đọc tiếp
Bởi Học văn cô Hà Huyền | 08/10/2023 0 bình luận

Cảm nhận bài thơ Đoàn thuyền đánh cá Huy Cận hay nhất Mở bài:  Huy Cận là một trong những nhà thơ tiêu biểu của phong trào thơ mới, thiên nhiên vũ trụ là nguồn cảm hứng dồi dào của ông và mang những nét đẹp riêng. Sau cách mạng thơ của Huy Cận tràn đầy niềm vui, niềm tin yêu cuộc sống và mang hơi thở của sự phát triển xã hội chủ nghĩa. Bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” được ông sáng tác ở Quảng Ninh năm 1958 nhân một chuyến đi thực tế dài ngày. Bài thơ là một bức tranh đẹp đẽ là bản hùng ca ca ngợi người dân lao động khi đất nước chuyển mình.  Thân bài:                Mở đầu bài thơ là khung cảnh vô cùng huy hoàng, tráng lệ là cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi lúc hoàng hôn buông xuống; Mặt trời xuốn g biển như hòn lửa Sóng đã cài then, đêm sập cửa Đoàn thuyền đán h cá lại ra khơi Câu hát căng buồm cùn g gió khơi. Hai câu đầu tác giả khái quát thời điểm xuất phát của đoàn thuyền đánh cá bằng những hình ảnh đẹp và tráng lệ của thiên nhiên. Mặt trời xuống biển nhưng dường như không tàn lụi, không tắt mà nó như hòn lửa rực đỏ khổng lồ chìm vào đáy nước đại dương. Biển cả, vũ trụ bao la như nồng ấm lên và như một ngôi nhà khổng lồ của người dân đánh cá. Biển lúc này được ví như con người biết tắt lửa, cài then, sập cửa. Tác giả đã sử dụng đồng thời ba biện pháp tu từ: so sánh, nhân hóa, ẩn dụ để tô lên vẻ đẹp rực rỡ, tráng lệ và đầy sức sống của biển cả mênh mông chứ không đìu hiu, ảm đạm như lối thơ cổ. Màn đêm như tấm cửa khổng lồ đóng lại để chuẩn bị nghỉ ngơi sau một ngày làm việc mệt mỏi. Nhưng ở đây thì không, đối với người dân chài  lại là lúc họ ra khơi đánh cá, cất tiếng hát và căng buồm cùng gió, thiên nhiên vũ trụ là phông nền cho con người xuất hiện. Đoàn thuyền đánh cá lạ i ra khơi Câu hát căng buồm cùn g gió khơi.         Đoàn thuyền lại ra khơi theo tuần tự, nhịp nhàng như cái nhịp sống không bao giờ ngừng nghỉ. Chữ “lại” trong câu thơ đã diễn tả điều đó, cho ta hiểu đây là công việc và hoạt động hàng ngày, thường xuyên của những ngư dân vùng biển. Mỗi chuyến đi là niềm vui sự hào hứng và tràn đầy hy vọng. Họ vui vì ra khơi mang theo câu hát, tiếng hát khỏe khoắn, bay cao, bay xa hòa cùng gió trời, gió biển, thổi căng cánh buồm.Tiếng hát, gió khơi, buồm căng là ba chi tiết nghệ thuật mang tính chất tượng trưng của biện pháp ẩn dụ diễn tả tinh thần phấn khởi, hăng say và khí thế của người dân vùng biển khi ra khơi, chinh phục biển cả.        Bốn câu thơ tiếp theo là tiếng hát phấn khởi làm nổi bật tâm hồn của con người dân chài, tiếng hát cất lên cầu mong cho những điều may mắn, thuận lợi: “ Hát rằng: cá bạc biển Đông lặng, Cá thu biển Đông như đoàn thoi Đêm ngày dệt biển muôn luồn g sáng, Đến dệt lưới ta đoàn cá ơi!” Như bài thơ “Quê hương” của Tế Hanh, mỗi khi đi đánh cá là người dân lại mong ước trời yên, biển lặng để có một ngày bội thu thì trong tác phẩm này, tác giả cũng nói lên niềm mong ước ấy để thể hiện tấm lòng hồn hậu của ngư dân chất phác, thật thà nơi vùng biển. Giọng thơ ngọt ngào, trong trẻo ngân dài và vang xa: "Cá bạc", "đoàn thoi", "dệt biển", "luồng sáng", "dệt lưới" là những hình ảnh so sánh ẩn dụ rất sáng tạo đem đến cho người đọc nhiều liên tưởng thú vị về vẻ đẹp thơ ca viết về người dân lao động của Huy Cận.       Khác với hồn thơ của Huy Cận trước Cách mạng là vũ trụ bao la, rợn ngợp trong “nỗi sầu trăm ngả” thì nay lại hết sức gần gũi, thơ mộng. Tác giả đã nhìn đoàn thuyền như một bộ phận của vũ trụ bao la nơi biển cả: “Thuyền ta lái gió với buồm trăn g Lướt giữa mây cao với biển bằng” Con thuyền vốn nhỏ bé nhưng qua lắng kính của nhà thơ thì thuyền trở nên lớn lao và kì vĩ. Hình ảnh con thuyền được đặt song song và hài hòa với thiên nhiên như gió, trăng, trời, biển. Hơn thế, con thuyền lại lái gió với buồm trăng đang lướt đi trên biển và như bay trên tầng không gian, trên thì có mây cao dưới thì có “biển bằng” mênh mông sông nước. Con thuyền đó đang lướt sóng giữa không gian bao la vô tận của vu trụ để chinh phục biển cả, chinh phục thiên nhiên. Thật ra, đây là cách nói đảo ngược của tác giả, thưc tế là gió lái thuyền và làm cho cánh buồm căng gió còn  ánh trăng chiếu vào cánh buồm nhìn xa  xa như là “buồm trăng”. Những hình đó mà nhà thơ tạo nên qua góc nhìn của mình đã cho người đọc thấy một hinh ảnh về con thuyền đẹp đẽ- vẻ đẹp khỏe khoắn, đầy sức sống là hiện thân cho con người lao động vùng biển Quảng Ninh. “Ra đậu dặm xa dò bụng biển Dàn đan thế trận lưới vây giăn g” Giữa bát ngát trăng sao, trời biển con người không hề nhỏ bé, ngược lại họ hiện lên là những con người ngang tầm với thiên nhiên với tư thế của người chiến thắng, họ ra dặm xa dò bụng biển để bủa lưới vây giăng. Họ làm việc bằng sự hăng say và lòng dũng cảm cùng một tâm hồn phơi phới trước sóng nước mênh mông. Nếu như ở đoạn đầu, thiên nhiên đã chìm vào trạng thái thư giãn, nghỉ ngơi “mặt trời xuống biển”,”sóng đã cài then”,”đêm sập cửa” thì ở đây, người lao động đã đánh thức thiên nhiên, khiến thiên nhiên dường như bừng tỉnh, như cùng hòa vào niềm vui trong lao động. Những hình ảnh đó tạo nên một bức tranh giữa con người và thiên nhiên tươi tuyệt dẹp và đầy sức sống.       Ở khổ thơ tiếp theo, Huy Cận đã tô điểm thêm bức tranh thiên nhiên cùng với hình ảnh chân thật nhưng đầy bất ngờ, độc đáo: “Cá nhụ cá chim cùng cá đé Cá song lấp lánh đuốc đen hồng Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe” Tác giả sử dụng thủ pháp liệt kê với sự phối hợp màu sắc hài hòa, uyển chuyển như “đen hồng, vàng chóe” đã tạo nên một bức tranh biển đầy sắc màu và ánh sáng. Mỗi loại cá có kiểu dáng, màu sắc khác nhau làm nên sự đa dạng và giàu đẹp của biển cả quê hương. Cái đuôi em quẫy dưới ánh trăng đã làm cảnh biển thêm sống động và rực rỡ lên, tạo nên một bức tranh thiên nhiên đầy sức sống mà không mất đi vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình. Đặc biệt, tác giả gọi cá bằng em, một cách gọi trìu mến, cá không còn là dối tượng đánh bắt mà trở nên thân gũi với ngư dân. Nhìn bầy cá bơi lội với những sắc màu phong phú, đa dạng nhà thơ đã lắng nghe tiếng sóng rì rầm với ánh mắt nhìn về xa. Câu thơ tiếp theo huyền ảo, lung linh: “Đêm thở:sao lùa nước Hạ Long” như đưa người đọc vào thế giới thần tiên trong truyện cổ tích. Bằng nghệ thuật ẩn dụ và nhân hóa tác giả đã biến biển cả bao la như một thực thể sống, tiếng sóng vỗ rì rầm được ví như nhịp thở trong đêm của biển. “Đêm thở, sao lùa” là hình ảnh độc đáo, sáng tạo và mới lạ trong nghệ thuật của Huy Cận. Có thể thể nói, tác giả phải có một tình yêu biển sâu nặng mới viết lên những vần thơ tuyệt bút và thơ mộng đến như vậy.        Với bút pháp lãng mạn và trí tưởng tượng sáng tạo, Huy Cận đã tạo nên những hình ảnh đẹp về vũ trụ bao la khiến công việc lao động nặng nhọc của người dân chài trở thành bài ca đầy niềm vui và sự tự hào. Ta hát bài ca gọi cá vào, Gõ thuyền đã có nhịp trăn g cao. Biển cho ta cá như lòn g mẹ Nuôi lớn đời ta tự buổi nào. Hành động “gõ thuyền” là công việc thực của người đánh cá nhưng cái hay ở đây là trăng được tác giả nhân hóa như con người tham gia lao động và hòa cùng sóng biển. "Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao". Hơn thế tác giả đã so sánh ngang bằng biển như lòng mẹ dể nói lên sự bao dung, độ lượng và sự cần thiết, quan trọng của biển cả đối với người dân chài, đồng thời thể hiện lòng tự hào, lời cám ơn  đối với quê hương nơi đã nuôi ta lớn.       Một đêm trôi qua với tinh thần lao động hào hứng, hăng say thì trên bầu trời sao đã thưa và mờ dần chỉ còn lại cảnh kéo lưới là vẫn đông vui, tấp nập. Sao mờ, kéo lưới kịp trời sáng, Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng. Vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng đông, Lưới xếp buồn lên đón nắng hồng” Đây là chi tiết cụ thể về hình ảnh con người lao động hiện lên trong sớm mai thật đẹp, đó là hình ảnh khỏe mạnh, tươi tắn mà người dân làm trong lúc gặt hái được thành quả. “Kéo xoăn tay” là hành động mạnh, dồn hết sức lực để kéo cá từ biển lên với những chùm cá trĩu nặng. Thành quả mà ngư dân thu được là “vẩy bạc, đuôi vàng” trong sớm mai là hình ảnh vừa thực vừa mang nghĩa ẩn dụ, những con cá được ẩn dụ quí giá như vàng, như bạc mà biển cả bao la dành tặng cho người dân. Và rồi những khoang thuyền đầy ắp cá cũng là lúc bình minh vừa chớm nắng hồng, ánh nắng làm cho cảnh biển thêm đẹp và nhiều khởi sắc cho một ngày tươi mới, tràn đầy sức sống. Đọc tiếp : Nhân vật Vũ Nương       Trình tự theo thời gian đã được Huy Cận miêu tả rất tài tình và nhiều đặc sắc, ở khổ cuối là cảnh đoàn thuyền trở về với khí thế vui mừng và hoành tráng: Câu hát căng buồm với gió khơi Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời Mặt trời đội biển nhô màu mới, Mắt cá huy hoàng muôn dặ m phơi. Ở khổ đầu là câu hát căng buồn cùng gió khơi để đưa thuyền ra biển lớn, còn khổ 5 là tiếng hát gọi cá vào thì ở khổ này vẫn là tiếng hát nhưng đây là tiếng hát trở về với sự bội thu, thắng lợi và sức mạnh bởi họ đã thu được những khoang cá đầy ắp thuyền mà biển cả đã dành tặng. Đoàn thuyền trở về đất liền với tư thế nhanh, gấp gáp “chạy đua cùng mặt trời” tác giả sử dụng biện pháp nhân hóa và nói quá để diễn tả cuộc đua giữa con người và thiên nhiên, cuộc đua không cân sức nhưng con người đã chiến thắng và đáp chân xuống đất liền khi mặt trời vừa nhô khỏi biển. Một màu của bình minh, màu của sức sống  đã tạo nên một bức tranh biển kì vĩ, bao la nhưng chứa đựng nhiều nét thơ mộng. Ở câu thơ cuối “Mắt cá huy hoàng“ là hình ảnh ẩn dụ tượng trưng cho cuộc sống tươi mới, nhưng ngày tốt đẹp đang đón chờ ngư dân và con người trong thời kì đất nước chuyển mình. Đó là một cuộc sống ấm no, hạnh phúc và bình yên mà tác giả muốn gửi gắm trong câu thơ của mình.      Kết bài:              Qua thơ Huy Cận chúng ta như đươc sống những đêm trăng đẹp trên biển Quảng Ninh cùng ngư dân làng chài. Cảnh đánh cá được miêu tả với cảm hứng lãng mạn cùng sự hăng say và niềm tự hào đã cho chúng ta những bài học về sự hi sinh, đức tính cần cù, chịu thương chịu khó của người nông dân. Thật vậy, bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” là một bài thơ hay đã để lại nhiều ấn tượng khó phai trong lòng độc giả về con người và vũ trụ bao la rộng lớn.

Đọc tiếp
Bởi Học văn cô Hà Huyền | 02/10/2023 0 bình luận

       Đọc và trả lời câu hỏi từ câu a đến d         Không có kính, rồi xe kh ông có đèn        Không có mui xe, thù ng xe có xước       Xe vẫn chạy vì m iền Nam phía trước:       Chỉ cần tron g xe có một trái tim.         Câu hỏi:        a . Hai câu đầu tác giả sử dụng nghệ thuật gì? Nêu tác dụng?         b  Qua hình ảnh chiếc xe trong khổ thơ đã nói lên h iện thực của cuộc kháng chiến chống Mĩ như thế nào?         c. Biện pháp tu từ nào được sử dụng ở câu thơ cuối c ủa khổ thơ? Nêu tác dụng của biện pháp tu từ đó?          d.Viết đoạn văn khoảng 12 câu theo phươ ng thức quy nạp nêu cảm nhận về khổ thơ cuối bài "Bài thơ về tiểu đội xe không kính".      Hướng dẫn trả lời:  a. Trong hai câu thơ đầu, tác giả sử dụng nghệ thuật điệp ngữ: Không có và liệt kê: không có kính, không có đèn, không có mui xe. Tác dụng: Gợi lên hình ảnh chiếc xe không đầy đủ, thiếu thốn đủ thứ nhằm nhấn mạnh sự biến dạng, hư hỏng nặng nề của những chiếc xe do bom đạn của Mĩ tàn phá. Ngoài ra xét toàn khổ thơ điệp ngữ “không có” còn đối sánh với “có” (một trái tim) giữa sự thiếu thốn khó khăn về điều kiện nhưng tinh thần và ý chí luôn đầy ắp trong tim. b.Hiện thực của chiến tranh lúc bấy giờ rất khốc liệt, dữ dội bom đạm làm cho những chiếc xe của quân đội ta biến dạng không còn nguyên vẹn. Sự khó khăn chồng chất khó khăn nhưng những người lính lái xe vẫn không lùi bước mà vẫn một lòng vì Miền Nam ruôt thịt. c. - Câu thơ cuối sử dụng biện pháp hoán dụ: từ “trái tim” được dùng theo nghĩa chuyển trái tim thay thế cho tất cả những thiếu thốn, khó khăn trên xe, trái tim áy là sự lạc quan, yêu đời và tinh thần anh dũng của chiến sĩ lái xe không sự hiểm nguy.       Ngoài ra trái tim còn hiểu theo nghĩa ẩn dụ: trái tim tượng trưng cho tâm hồn và phẩm chất của người chiến sĩ lái xe. - Trái tim chứa đựng ý chí, bản lĩnh và tinh thần yêu nước tất cả vì miền Nam ruột thịt vì sự thống nhất của dân tộc. - Trái tim trở thành nhãn tự cho toàn bài thơ, hội tụ tất cả vẻ đẹp của tinh thần, ý chí của người lính lái xe cũng như để lại cảm xúc sâu lắng trong lòng người đọc. d. Học sinh đạt yêu cầu về dung lượng và hình thức đoạn văn theo phương pháp qui nạp, câu chủ đề nằm ở cuối đoạn - Khổ thơ cuối thể hiện ý chí chiến đấu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của những chiến sĩ lái xe trên tuyến đường trường Sơn. Bài thơ khép lại bằng hình ảnh thể hiện ý chí kiên cường vì Tổ quốc, đó là sức mạnh  phi thường của người lính để vượt lên tất cả, bất chấp mọi nguy nan, mọi sự hủy diệt, tàn phá của đế quốc Mĩ + Biện pháp liệt kê, điệp ngữ được sử dụng nhằm nhấn mạnh sự ác liệt của chiến tranh và sự thiếu thốn, mất mát ngày càng lớn. Mọi thứ trên xe bị bom đạn tàn phá không còn nguyên vẹn nhưng các chiến sĩ vẫn giữ tinh thần lạc quan, yêu đời - Điều kì diệu và đặc biệt đó là không gì cản trở, làm lùi bước được ý chí của những chiến sĩ  “xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước”.  Đó chính là sự ngoan cường, dũng cảm, vượt lên trên mọi gian khổ, ác liệt của chiến tranh  và đó còn là sức mạnh của tinh thần yêu nước. - Đối lập với những cái “không có” ở trên là một cái “có”,  đó là sức m ạnh từ trái tim có thể chiến thắng bom đạn kẻ thù. Những chiếc xe vận tải chạy b ằng sức mạnh của trái tim, sức mạnh của ý chí giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. - Trái tim là hình ảnh hoán dụ cũng là hình ảnh ẩn dụ nói vẻ đẹp về tâm hồn và phẩm chất của người lính lái xe. Trái tim nhiệt huyết một lẽ sống cao đẹp: vì miền Nam, vì sự thống nhất đất nước. Hình ảnh những người lính chiến đấu với lý tưởng độc lập, tự do  giải phóng đất nước gắn với chủ nghĩa xã hội đã t hể hiện thế hệ anh hùng, mạnh mẽ, hiên ngang mà thế hệ hôm nay, mai sau còn khắc ghi mãi mãi.        

Đọc tiếp
Bởi Học văn cô Hà Huyền | 05/09/2023 0 bình luận

Phân tích nhân vật Vũ Nương           Người phụ nữ là đề tài quen thuộc mà nhiều nhà văn, nhà thơ lấy đó làm chủ đề cho mạch cảm xúc của mình, dặc biệt là trong văn học thời trung đại. Hồ Xuân Hương đã thành công với bài thơ “Bánh trôi nước”. Với Nguyễn Dữ thành công  đó là tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương. Qua nhân vật trong tác phẩm ông đã tô cáo, lên án xã hội phong kiến đầy bất công nhất là với những người phụ nữ phẩm hạnh nhưng khổ đau, oan trái. Chuyện người con gái Nam Xương được trích trong truyền kì mạn lục, ghi chép tản mạn những câu chuyện có thật và đưa yếu tố kì ảo vào tác phẩm. Văn bản này có nguồn gốc từ câu chuyện “Vợ chàng Trương” cả hai tác phẩm đều nói về người phụ nữ bất hạnh trong xã hội phong kiến. Mở đầu tác phẩm đã giới thiệu rất rõ về ngoại hình cũng như phẩm chất của nhân vật Vũ Nương “Tính đã thuỳ mị nết na lại thêm tư dung tốt đẹp” đây là câu giới thiệu hàm ẩn mọi tố chất của người phu nữ, công- dung- ngôn-hạnh. Nhưng phẩm chất tốt đẹp bao nhiêu thì lại oan nghiệt bấy nhiêu. Ngay ở đoạn đầu tác giả đã cho ta thấy rất rõ một cuộc hôn nhân bất bình đẳng của nàng. Nàng xuất thân con nhà nghèo nhưng vì Trương Sinh mến dung hạnh nên xin mẹ trăm lạng vàng cưới về. Nhân vật Trương Sinh được tác giả giới thiệu hoàn toàn trái ngược với Vũ Nương, Trương Sinh xuất thân con nhà hào phúng nhưng ít học, tính hay đa nghi và đề phòng vợ quá mức. Chứng tỏ một điều rằng sự bất công về con người trong xã hội càng hiện lên rõ nét. Xét về góc độ khách quan thì một người phụ nữ xinh đẹp,tài giỏi như Vũ Nương thì xứng đáng được một cuộc sống hạnh phúc, viên mãn nhưng ở câu chuyện này thì hoàn toàn khác, nàng không được tự do yêu thương, không được quyền chọn lựa. Trương Sinh lấy nàng về như một hình thức mua bán mà chính Trương Sinh cũng không yêu thương gì nàng mà chỉ lấy nàng vì “mến”.           Mặc dù vậy nhưng Vũ Nương hết lòng yêu thương chồng, biết chồng đa nghi nên nàng luôn giữ gìn khuôn phép, không để gia đình phải thất hòa. Cuộc sống bên chồng chưa được bao lâu thì Trương Sinh phải đi lính. Nàng bịn rịn tiễn dặn chồng và khoogn mong muốn gì ngoài sự “bình yên” của chồng. Bên cạnh đó nàng còn thấu hiểu nỗi vất vả của chồng sắp phải chịu. Những chi tiết đó đã chứng tỏ nàng là người phụ nữ  vì gia đình “nghi gia nghi thất” phẩm hanh ấy càng được bộc lộ rõ hơn khi ở với mẹ chồng.           Sau khi chàng đi được một tuần thì nàng sinh con, đặt tên là bé Đản. Vì nhớ con trai nên mẹ chồng đã sinh ốm. Lúc này, nàng vừa làm con, vừa làm mẹ, vừa làm cha, một mình nàng gánh vác mọi công việc của gia đình chồng.           Đối với mẹ chồng, Vũ Nương là người con hiếu thảo, ngoan hiền. Trong lúc chồng đi xa, nàng vừa chăm sóc mẹ già đau ốm vừa nuôi con nhỏ. “Nàng hết sức thuốc thang, lễ bái thần phật mà lấy lời ngọt ngào khôn khéo khuyên lơi”. Phẩm chất ấy của nàng đã được chính người mẹ chồng đánh giá cao khi bà ở phút lâm chung. Đó là sự đánh giá xác đáng và  khách quan. Khi mẹ chồng mất, “nàng hết lời thương xót, phàm việc ma chay tế lễ, lo liệu như đối với cha mẹ đẻ của mình”. Nàng làm tất cả những việc đó không chỉ vì trách nhiệm của một nàng dâu mà còn thể hiện tình yêu thương hết lòng đối với chồng ngoài mặt trận. Nguyễn Dữ đã dành cho nhân vật sự yêu mến,trân trọng qua từng hành động,cử chỉ qua đó khắc họa rõ nét phẩm chất người phụ nữ.           Đối với đứa con bé bỏng của mình thì nàng hết mực yêu thương và tìm cách lấp đi cái thiếu thốn phải xa cha mà con mình đã chịu thiệt thòi. Nàng đã lấy “cái bóng” của mình để dỗ dành con, nói với con đó là cha để làm vơi bớt nỗi nhớ chồng và xoa dịu sự thiếu thốn khi vắng cha của bé Đản. Và rồi “cái bóng” đã trở thành người cha trong tâm trí của một đứa trẻ ngây thơ mới 3 tuổi.   Sau ba năm xa cách, khi trở về cứ nghĩ rằng Trương Sinh sẽ mang lại hạnh phúc cho gia đình thì cũng lại là lúc tai họa ập đến cuộc đời Vũ Nương. Chỉ vì lời nói ngây ngô của trẻ con: “Ô hay! Ông cũng là cha tôi ư? Cha tôi đêm nào cũng đến.., làm cho Trương Sinh ngờ vực, hiểu lầm vợ thất tiết. Dù Vũ Nương có hết lời phân trần, có tha thiết giãi bày để chồng hiểu rõ tấm lòng mình. Dù họ hàng làng xóm có hết lòng khuyên can, biện hộ cho nàng thì Trương Sinh cũng không hề đếm xỉa mà chỉ một mực nghi oan cho vợ.           Chính chi tiết, và phân đoạn này càng cho chúng ta thất rõ sự vô học của Trương Sinh. Nếu Trương Sinh có học thức thì sẽ không xử lý như vậy. Rồi từ chỗ “la um lên cho hả giận”, Trương Sinh đã mắng nhiếc, đuổi vợ đi. Phải chăng, xã hội phong kiến với chế độ nam quyền độc đoán, với thói “trọng nam khinh nữ” bám chặt vào tế bào mỗi cá nhân đã dung túng, cho phép người đàn ông được quyền coi thường, rẻ rúng và đối xử thô bạo với người phụ nữ? Thương nhớ chồng là thế, lại bị chồng ruồng rẫy, gạt bỏ. Giữ gìn khuôn phép, rất mực thủy chung lại bị coi là thất tiết, chịu tiếng nhuốc nhơ... Nàng không hiểu vì sao bị đối xử bất công, bị mắng nhiếc và đuổi đi, không có quyền được tự bảo vệ ngay cả khi có họ hàng làng xóm bênh vực và biện bạch cho. Như vậy một lần nữa cái quyền tự bảo vệ mình và được người khác bảo vệ cũng không có.  Hạnh phúc gia đình, niềm khao khát của cả đời nàng đã tan vỡ tình yêu không còn “bình rơi trâm gãy, mây tạnh mưa tan, sen rủ trong ao, liễu tàn trước gió”, cả nỗi đau khổ chờ chồng đến hóa đá trước đây, cũng không còn có thể có lại được nữa. Thất vọng đến tột cùng, cuộc hôn nhân đã không có cách nào hàn gắn nổi, Vũ Nương đành mượn sông Hoàng Giang rửa sạch nỗi oan nhục, giãi bỏ tấm lòng trong trắng của mình. Một hành động tưởng chừng như ngu xuẩn nhưng đặt ở vị trí ngày đó, xã hội đó, người chồng đó thì không có cách nào khác là phải tìm đến cái chết.           Chúng ta đặt ra một gỉa thiết; Nếu Vũ Nương không chết thì biết đâu đó chính Trương Sinh cũng hành hạ nàng đến chết, khi này nàng sống trong đau đớn cả về thể xác lẫn tinh thần mà nỗi oan ức không được giãi bày?Lời than của nàng như lời nguyền xin thần sông chứng giám nỗi oan khuất và đức hạnh của nàng: “Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu, chồng con rẫy bỏ, điều đâu bay buộc, tiếng chịu nhuốc nhơ, thần sông có linh, xin ngài chứng giám. Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mỵ Nương, xuống đất xin làm cỏ ngu mĩ. Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin làm mồi cho cá tôm, trên xin làm cơm cho diều quạ và xin chịu khắp mọi người phỉ nhổ”. Và rồi, một hôm bé Đản gọi bóng Trương Sinh là cha, lúc này Trương Sinh mới biết mình nghi oan cho vơ. Chàng đã lập đàn giải oan nhưng Vũ Nương chỉ hiện về trong chốc lát rồi biến mất. Qua tác phẩm ta thấy Vũ Nương đã nhiều lần phải trải qua khó khăn, cực nhọc trong cuộc sống nhưng vẫn vượt lên số phận nhưng càng cố gắng thì sự oan nghiệt càng đến gần, nàng vẫn là nạn nhân của chế độ nam quyền đầy bất công và thối nát. Nàng chính là nạn nhân của xã hội phong kiến cũng là nạn nhân của chiến tranh phi nghĩa.           Qua văn bản này Nguyễn Dữ đã ca ngơi người phụ nữ dung hạnh nhưng đầy bất hạnh.Dồng thời cũng tố cáo, lên án xã hội đầy bất công thời phong kiến, một xã hội bất bình đẳng, chà đạp lên tinh thần và thể xác người phụ nữ. Đọc tác phẩm ta càng thấy ngòi bút sắc bén của tác giả và những giá trị nhân văn sâu sắc mà ông muốn gửi gắm cho bạn đọc.  

Đọc tiếp
Bởi Học văn cô Hà Huyền | 05/09/2023 0 bình luận

          Tính đến thời điểm hiện tại, bên cạnh sắn, ngô, khoai thì cây lúa nước là một trong những thực phẩm được tiêu thụ nhiều nhất trên đất nước hình chữ S ta, Là một trong những những nguồn thu nhập chính của nhà nông và là giống cây dễ chăm sóc và dễ trồng nhất.           Cây lúa, và phổ biến nhất là lúa nước xuất hiện nhiều nhất ở Đông Nam Á khoảng cách đây hơn 10000 năm về trước và được con người nơi đây thuần hóa đem về canh tác và dần lúa nước trở thành nguồn thu nhập chính của họ. Như vâỵ có thể nói, Việt Nam là cái nôi của nền văn minh lúa nước đầu tiên và là trung tâm phát triển ngành nông nghiệp lúa nước lớn trên thế giới.           Lúa vốn là một loài cây hoang dã, tổ tiên của nó là một loài cây dại thuộc chi Oryza trên siêu lục địa Gondwana cách đây khoảng 130 triệu năm về trước, sau bởi vì quá trình phân tách lục địa mà loài này bị trôi dạt về các vùng đất khác nhau, quá trình tiến hóa đã cho ra nhiều giống lúa có cấu tạo khác biệt. Và lúa nước của Việt Nam có tên khoa học là Oryza Sativa thuộc họ lúa Poaece vẫn thường được gợi với cái tên quen thuộc là lúa hoặc lúa nước, được trồng chủ yếu ở hai đồng bằng lớn sông Hồng và sông Cửu Long, ngoài ra còn được canh tác ở nhiều đồng bằng nhỏ vùng duyên hải miền Trung nước ta, hoặc trên các vùng núi Tây Bắc, hình ảnh những ruộng bậc thang đầy sức sáng tạo của người dân trên những ngọn đồi, ngọn núi cao sừng sững đã trở thành một trong những hình ảnh, kỉ niệm đáng nhớ cho những vị khách du lịch đến đây chiêm ngưỡng sự hùng vĩ của thiên nhiên và con người.           Lúa nước được chia ra làm hai loại dựa vào hàm tính amilopectic (hàm lượng quyết định tính dẻo) trong hạt gạo. Gạo tẻ có hàm lượng amilopectic chiếm khoảng 80% còn của gạo nếp thì cao hơn khoảng 90% vì vậy gạo nếp ăn dẻo và dín hơn. Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu và lai tạo giống, người ta còn dựa và hình dáng, đặc điểm mà chia ra làm nhiều giống lúa khá nhau.           Còn về ý nghĩa, trong những năm khoảng chiến chống Pháp và chống Mỹ, hình ảnh cây lúa được gắn với hình ảnh hậu phương vững chắc à hình ảnh của công cuộc xây dựng nước nhà, lấy gốc là nông nghiệp, của Đảng và nhà nước. Ngoài ra, khi nhắc đến cây lúa nhiều người sẽ nghĩ đến hình ảnh người nông dân cần cù, siêng năng, một nắng hai sương trên cánh đồng lúa xanh bát ngát thẳng cánh cò bay là đại diện cho sự ấm no, đủ đầy cho mọi nhà. Hay trong những ngày lễ lớn, xôi – một món ăn truyền thống không thể thiếu trong mâm cỗ của người Việt ta từ xưa đến nay. Hoặc trong những ngày tết cổ truyền hình ảnh cả gia đình ngồi luộc bánh trưng, bánh giày cũng là một kỉ niệm khó quên của những người con xa quê hương. Hay ngược về thời xa xưa, hình ảnh chàng hoàng tử lang luu sử dụng gạo để làm bánh trưng, bành giày cúng bái trời đất, dâng lên vua Hùng, qua đó ta có thể thấy được sự quan trọng của hoa gạo, cây lúa trong đời sống thường ngày xung quanh ta.           Bình dị, giản dị cả trong đời sống vật chất và tinh thần, cây lúa là người bạn của nông dân là nguồn thu nhập nông nghiệp chính của nước tavaf là hậu phương vững chắc của ta trong những năm kháng chiến đầy khó khăn.  

Đọc tiếp
Bởi Học văn cô Hà Huyền | 05/09/2023 0 bình luận

PHẦN I. GIỚI THIỆU TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM 1. Tác giả           Tác giả Xéc-van-tét (1547-1616) là nhà văn người Tây Ban Nha. Ông vốn là binh sĩ bị thương năm 1571 trong một cuộc huỷ chiến và bị bắt giam ở An- giê từ năm 1575 đến năm 1580. Trở về Tây Ban Nha, ông sống một cuộc đời cực nhọc, âm thầm mãi cho đến lúc công bố tiểu thuyết Đôn- ki-hô-tê. 2. Tóm tắt nhân vật           Văn bản đánh nhau với cối xay gió trích trong tiểu thuyết ấy. Tác phẩm Đôn-ki-hô-tê, một lão quí tộc nghèo sống với cháu gái và bà quản gia vì quá say mê truyện hiệp sĩ nên muốn trở thành hiệp sĩ giang hồ. Lão lục tìm những đồ han gỉ của tổ tiên để trang bị cho mình, phong cho con ngựa còm của lão là chiến mã Rô-xi-nan- te còn bản thân lão lão là Đôn-ki-hô- tê xứ Man- cha. Còn người phụ nữ lão thầm yêu thì được lao ban cho cái tên công nương Duyn-xi-nê-a.Cuối lần ra đi thứ nhất Đôn-ki-hô-tê vốn đã nhắm bác nông dân ở cạnh nhà, nghèo và đông con, lương thiện, "nhưng phải mỗi tội là kém thông minh". Đôn-ki-hô-tê  bảo bác hãy đi theo chàng vì có thể trong một cuộc phiêu lưu mạo hiểm nào đó, chàng sẽ chiếm được một hòn đảo và sẽ trao cho bác cai trị. Bị những lời hứa hẹn tốt đẹp cám dỗ, Sancho Panza (tên bác thợ cày) bỏ cả vợ con, nhà cửa, đi làm giám mã cho ông láng giềng Cuộc hành trình trừ lũ gian tà, cứu người lương thiện đã diễn ra và sau nhiều phen thất bại ê chề, cuối cùng ốm nặng. Dôn-ki-hô- tê mới nhận ra tác hại của truyện hiệp sĩ. Lão viết di chúc và qua đời. PHẦN II.PHÂN TÍCH NHÂN VẬT VÀ CUỘC ĐỐI THOẠI GIỮA HAI NHÂN VẬT 1. Phân tích và so sanh hai nhật vật           Ở đoạn trích Đôn-ki- hô- tê đánh nhau với cối xay gió có rất nhiều chi tiết hay và ý nghĩa đặc biệt là cuộc đối thoại và sự tương phản giữa hai nhật vât Đôn-ki-hô-tê và San-cho Pan xa, vậy nét đặc sắc mà tác giả đã xây dựng qua đoạn trích này là gì? Chúng ta cùng nhau đi tìm hiểu.           Ngay trong đoạn trích, ta thấy hai nhân vật Đôn-ki-hô-tê và  San-cha Pan- xa đã có nhiều nét khác nhau về tất cả mọi mặt, từ ngoại hình cho đến tính cách. Đối với nhân vật Đôn-ki-hô-tê được xuất thân trong gia đình quý tộc nghèo, cái tên của ông là do chính ông đặt ra thể hiện vị thế của mình trong xã hội. Còn với San- cha Pan xa ông là người nông dân hiền lành, chất phác. Về hình dáng San cha Pan- xa vừa béo, vừa thấp cưỡi trên lưng con lừa, với bầu rượu và cái túi hai ngăn đựng thức ăn, thuốc cao và những vật dụng thiết thực khác, ngược lại Đôn-ki-hô-tê thì cao lênh khênh, ngồi trên lưng con ngựa. Con ngựa hiện thân của năng lực, may mắn, hạnh phúc và quyền thếđồng thời con ngựa cũng thể hiện nghị lực, sáng tạo và sức sống mãnh liệt. Còn con lừa thì biểu tượng cho sự khiêm nhường, hiền lành, hòa bình. Hay nói cách khác, con lừa chỉ biết làm việc nặng nhọc dưới sự chỉ bảo của ông chủ mà không cần suy nghĩ hay trí thông minh. Tác giả xây dựng mặt đối lập này nhằm cho người đọc nhận thức điểm mạnh và điểm yếu của nhân vật trong câu chuyện. Sự đối lập ấy hết sức khéo léo và tài tình.           Về tính cách của hai nhân vật cũng khác nhau hoàn toàn, Đôn-ki-hô-tê hì dũng mãnh, trọng danh dự và luôn nghĩ đến việ chung còn San- cha Pan xa thật thà, nghĩ đến cuộc sống của riêng mình. Trong suy nghĩ của Đô-ki-hô- tê thì có nhiều ảo tưởng, hão huyền và thiếu thực tế, ngược lại giám mã thì lại hết sức tỉnh táo và thực tế dẫn đến thực dụng. Tất cả những sự khác biệt đó cũng dẫn đến mục đích của hai nhân vật khác nhau, đối với Đôn-ki-hô-tê thì muốn trở thành hiệp sĩ lang thang trừ gian trừ tà và giúp người lương thiện, đó là mục đích cao cả mà lão mong muốn thực hiện được. Còn giám mã chỉ mong hưởng chiến lợi phẩm những thứ tầm thường trong cuộc sống           Qua cách xây dựng nhân vật ở hai mặt đối lập, ta thấy tác giả đang muốn khắc họa sâu hơn về thực tế đời sống lúc bấy giờ, nhằm cho người đọc hiểu sâu sắc hơn về cái tầm thường và cái cao cả trong thời kỳ Phục Hưng. Vậy cái cao cả và tầm thường đó là gì? Chúng ta hãy tìm hiểu đoạn đối thoại của hai nhân vật và những tình tiết bất ngờ. 2. Trận chiến và kết thúc           Khi đến cánh đồng, Đôn-ki-hô- tê “chợt” thấy những chiếc cối xay gió, đây là yếu tố bất ngờ cộng thêm số lượng những chiếc cối xay gió “ba bốn chục chiếc” phần nào giải thích hoang tưởng chợt xuất hiện trong đầu Đôn- ki-hô- tê bởi trong các tiểu thuyết lão đọc thì những trận chiến thường xảy ra bất ngờ với số lượng lớn của kẻ địch. Chàng muốn chia sẻ hoang tưởng của mình cho giám mã và muốn nhấn mạnh những điều mà giám mã quan tâm nhất đó là “chiến lợi phẩm, giàu sang phú quí, chính đáng, phụng sự Chúa” Lúc này, San cho Pan xa hỏi lại, những tên khổng lồ nào cơ Đôn- ki-hô- tê trả lời: Những tên mà anh nhìn thấy ở trước mặt kia kìa. Cánh tay chúng rất dài, có cái tới gần hai dặm           Nhưng giám mã lại rất tỉnh táo trả lời và cảnh báo ông chủ: Xin ngài coi chừng, đó chỉ là những cối xay gió, cái vật trông giống cánh tay là những cánh quạt… Vì mục đích cao cả và sự quyết tâm, chàng hiệp sĩ Đôn-ki-hô-tê quyết tâm kết liễu “những tên khổng lồ, hung tợn” “quét sạch cái giống xấu xa này khỏi Trái Đất” mặc cho giám mã có lời khuyên. Hơn nữa, lão cùng trách giám mã “chẳng hiểu gì” Hắn xông lên và trong đầu đinh ninh phía trước có những tên khổng lồ. Như vậy trong đầu hắn luôn nghĩ đến kẻ xấu xa và những thứ tầm thường cần phải xóa khỏi Trái Đất, hắn không hề nghĩ đến sự tồn tại hữu hình của nó trong hiện tại. Đôn- ki- hô- tê hiện thân của một chàng hiệp sĩ thực hiện cái cao cả, ở chi tiết : “Lũ….kia, không được chạy trốn! Có ta là hiệp sĩ, một thương một mã đến đọ sức với bọn ngươi đây” Ở câu này đã thấy rõ sự quân tử từ Đôn-ki-hô-tê, chàng hiệp sĩ vì lý tưởng tốt đẹp, “một thương một mã” là đấu tay bo, đấu không cần nhiều bọn mà chiến đấu đúng nghĩa quân tử như các hiệp sĩ mà lão đã đọc trong tiểu thuyết.           Chàng thể hiện lòng dũng cảm và niềm tin chiến thắng của mình, chàng thúc ngựa lên với với lòng quyết tâm, dũng cảm, chống kẻ thù quyết liệt. Nhưng kết cục trận chiến trong chóng vánh chỉ để lại thương tích cho hiệp sĩ. ‘ngọn giáo gãy tan tành, cả  người lẫn ngựa ngã chổng kềnh ra đất” “Đôn-ki-hô- tê nằm không cựa quậy sau cái ngã như trời giáng” Mặc dù thấy trận đấu gây ra tiếng cười bởi lý tưởng cao cả nhưng không thực tế của chàng nhưng chúng ta vẫn khâm phục tinh thần sự hào hùng đó.  Lúc này, giám mã thúc lừa tới và buông lời trách móc nhưng chàng hiệp sĩ vẫn kiên quyết không tin vào những cái “ai cũng biết” . Và chàng đã thuyết phục được giám mã qua tình tiết đầy lạc quan về ông pháp sư, như vậy ta thấy ngoài đấu tranh với thực tại thì chàng còn đấu tranh với cả thế giới siêu nhiên đầy pháp thuật đó là tên pháp sư.            Và rồi hai thầy trò tiếp tục cuộc hành trình về nơi đông người, ở chi tiết này cho ta thấy rõ hơn mục đích cuối cùng của chàng hiệp sĩ là “bênh vực kẻ yếu” .Điều đáng chú ý, cho dù đau đớn về thể xác nhưng chàng vẫn không kêu lên và vẫn phản đối giám mã San- cho Pan- xa. Vết thương không đáng lo ngại, điều mà chàng lo lắng đó là vũ khí, chàng liền nghĩ đến trong tiểu thuyết có hình ảnh “ nhổ cây” làm vũ khí một lần nữa đã được sự đồng tình từ giám mã 3. Bức tranh sinh hoạt tinh thần và vật chất           Chàng Đôn-ki-hô-tê chằng buồn ăn, hắn chỉ nghĩ đế tinh thần là chủ yếu  còn tên giám mã thì “ngồi một cách rất thoải mái trên lưng lừa, lấy cái ăn ở trong cái túi hai ngăn” ở chi tiết này cho thấy bác giám mã hết sức bình tĩnh và nghĩ về vật chất còn tinh thần bác giám mã không hề nghĩ đến. Điều này càng được thể hiện rõ nét hơn ở đoạn sau: Sancho Panza “vừa đi theo chủ vừa ăn một cách khoái trá, thỉnh thoảng nghiêng bầu rượu tu một hơi ngon lành khiến tay chủ quán rượu sành sỏi nhất ở Malaga cũng phải phát ghen”. Sancho Panza hết sức thoải mái trong thế giới vật chất. Chính đây là lúc bác có thể suy nghĩ, hay đúng hơn là “cảm nhận” cuộc sống: “Vừa đi vừa nhắm rượu, Sancho quên cả những lời hứa hẹn của chủ; bác cảm thấy cái nghề đi tìm kiếm những chuyện phiêu lưu này tuy có nguy hiểm song không đến nỗi vất vả”. Sancho Panza vốn ra đi vì “hòn đảo” giàu sang phú quí mà chủ bác hứa cho khi lập được chiến công, vậy mà giờ đây “quên cả lời hứa hẹn của chủ”. Lời hứa hẹn ấy quá xa vời, nhất là trong khi vừa trải qua một thất bại! Đối với Sancho Panza, cả “nguy hiểm” đã qua và sẽ đến cũng không thật quan trọng. Trong khi ăn uống, Sancho Panza chỉ nhìn thấy cái trước mắt, trước mắt là có cái mà ăn uống và “không đến nỗi vất vả”. Như vậy là bác giám mã hài lòng.           Còn đối với Đôn-ki-hô-tê lúc ngủ chàng cũng nghĩ đến vũ khí của mình “bẻ một cành khô” cho dù không có cây sồi  và cũng không đủ khả năng để nhổ cây, một cành khô là đủ, cái gì thiếu đã có trí tưởng tượng của chàng hiệp sĩ. Quan trọng là tinh sẵn sàng chiến đấu và khát vọng lập chiến công. Tinh thần ấy của Đôn-ki-hô-tê được cũng cố thêm rất nhiều nhờ hướng tới người tình nương lý tưởng, chàng không ngủ cả ở thế giới thực tế. Còn giám mã thì ngược lại “Sau khi đánh chén no say, bác làm một giấc đến sáng, và nếu như chủ không gọi, chắc bác cũng chưa buồn dậy, mặc cho ánh nắng chiếu thẳng vào mặt, mặc những tiếng chim hót líu lo đến mừng một ngày mới”           Tuy nhiên, thức dậy khỏi giấc ngủ chưa phải là đã tỉnh ngay: “Vừa mở mắt, Sancho Panza đã vớ ngay bầu rượu, bác hơi buồn vì thấy nó nhẹ hơn hôm trước mà xem chừng trên quãng đường này khó đào đâu ra rượu để đổ vào cho đầy”. Vẫn những toan tính vật chất tầm thường ấy! Còn chàng hiệp sĩ thì cũng đâu đã tỉnh khi “không ăn sáng vì, như ta thường nói, nghĩ đến người yêu cũng đủ no rồi”. Vẫn cái tinh thần phi vật chất ấy!           Qua đoạn trích này tác giả dã cho chúng ta thấy hai nhân vật là hai tư tưởng đối lập nhau nhưng bổ sung cho nhau. Một người thì hướng đến tinh thần, nghĩ đến cái cao cả tốt đẹp. Còn một người thì nghĩ đến cái giản dị, tầm thường trong cuộc sống đó là vật chất. Nếu tổ hợp hai yếu tố này trong cùng một người thì sẽ trở thành một người hoàn mĩ nhưng ở mỗi cá nhân, có điểm này lại mất điểm kia. Chính vì vậy tác giả muốn cho người đọc thấy được sự biện chứng giữa vật chất với tinh thần, tất cả phải hài hòa thì mới tạo nên môt cá nhân hoàn chỉnh. Nếu thiên về tinh thần nhiều quá thì sẽ trở thành nhân vật Đôn-ki-hô-tê ảo tưởng quá sức, một gã gầy còm cao lênh khênh. Còn thiên về vật chất lại trở thành kẻ tầm thường như Sancho Panza, mập mạp và không có trí tưởng tượng. 4. Tư tưởng chủ đạo mà tác giả muốn gửi gắm           Ở phân đoạn này ta thấy sự tưởng tượng của Đô-ki-hô-tê đã lên cao cho dù những chiếc cối xay gió đó không có gì lạ lẫm với người dân Tây Ban Nha đặc biệt với một quí tộc nghèo như chàng. Vậy tại sao chàng lại có hành động như vậy? Câu trả lời đơn giản là vì Đôn-ki-hô-tê bị ảo tưởng quá sức, trong tâm trí chỉ mong thực hiện những nhiệm vụ cao cả, và lấy sức mình để bảo vệ kẻ yếu. Nhưng sự ảo tưởng đó đã gây nên tiếng cười cho bạn đọc, chàng đã trở thành kẻ điên rồ. Nhưng may mắn thay, mặc dù hoang tưởng, nhưng Đôn Ki-hô-tê lại là người có lối suy nghĩ nhân văn, tích cực. Những chiếc cối xay gió chính là những thứ tầm thường trong cuộc sống nên chàng muốn tiêu diệt chúngTrong đầu óc nhà quý tộc, hễ cứ gặp ai, cũng hình dung họ như là những nhân vật trong sách kiếm hiệp. Đến nỗi, một cô gái mà ai cũng biết xấu xí, nhưng Đôn Ki-hô-tê lại cho rằng rất đẹp, là tình nương. Ai bị đánh thua trận, bắt buộc phải về gặp tình nương kể lể.   Nhưng cũng thông qua nhân vật , tác giả đã lên án bất công, cần sự công bằng, tự do cho con người. Đồng thời chế giễu thói hư danh, sống theo trào lưu tầm thường, mà đánh mất đi chính mình. Trong tác phẩm này kẻ thù tầm thường về tư tưởng chính là cha sứ, kẻ luôn ngăn cản cái cao đẹp, nhân văn. Cũng chính nhân vật Đôn-ki-hô-tê đã cho ta thấy chế độ nhân quyền được đề cao , con người được xem là chúa tể của vu trụ chứ không như xã hội trước đó chủ yếu coi trọng thần quyền. Tác giả muốn gửi gắm sự nhân văn, con người được coi trọng, bình đẳng, nhân ái giữa con người với con người. Chủ nghĩa nhân văn khẳng định đời sống thực tế, ca ngợi niềm vui và hạnh phúc trần thế, khẳng định tình yêu là cao đẹp, con người có quyền theo đuổi danh vọng và của cải, khẳng định địa vị, phẩm giá con người qua nhân cách, bất cứ xuất thân như thế nào. Nhân vậy Đôn-ki-hô- tê đại diện cho con người mang lý tưởng nhân văn cao đẹp đầy tài năng và trí tuệ như những kì quan của thiên nhiên. Cho dù thất bại trong đau đớn nhưng vẫn không bỏ cuộc.           Một lần nữa ta khẳng định đây chính là chủ đề xuyên suốt nhân văn thời lỳ Phục Hưng mà con người hướng đế. Đôn-ki-hô-tê thực hiện lý tưởng phi thực tế, còn Sancho Pan xa thực hiện thực tế phi lý tưởng.

Đọc tiếp
Bởi Học văn cô Hà Huyền | 31/08/2023 0 bình luận

Việt Nam đất nước ta ơi Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn Những câu thơ quen thuộc ấy chắc hẳn đã khắc sâu trong tâm trí của chúng ta. Bạn biết về cây lúa này nhưng đã bao giờ tìm hiểu kĩ về nó chưa?  Nếu chưa chúng ta hãy cùng đi tìm hiểu nhé.           Lúa là một loại cây trồng có vai trò quan trọng trong đời sống và lịch sử phát triển của hàng triệu người trên Trái Đất từ xa xưa đến nay. Và Lúa là cây lương thực chính của người dân Việt Nam nói chung và Châu Á nói riêng. Lúa là cây có một lá mầm, dễ chùm. Có hai vụ lúa: chiêm, mùa. Như chúng ta đã biết cách trồng lúa phải trải qua rất nhiều giai đoạn nhưng đã bao giờ thử hỏi nó như nào hay chưa? Bắt đầu từ hạt thóc nảy mầm thành cây mạ, rồi nhổ cây mạ cấy xuống ruộng, ruộng phải cày bừa, làm đất, bón phân, ruộng phải sâm sấp nước, khi lúa đẻ nhánh thành từng bụi phải làm cỏ, bón phân diệt sâu bọ.(…) Cuối cùng là người nông dân về tuốt hạt, phơi khô, xay xát thành gạo. Ngày nay, nước ta đã tạo được hơn 30 giống lúa được công nhân là giống lúa quốc gia. Cũng chính vì gạo, lúa đã đưa Việt Nam ta từ một nước đói nghèo trở thành một nước đứng thứ hai sau Thái Lan về xuất khẩu gạo. Qủa thật là rất tuyệt vời, giá trị sử dụng lúa là lương thực, thực phẩm thiết yếu hàng ngày của người dân, nó là thành phần của nhiều thực phẩm món ăn hàng ngày: phở bột mì,... Lúa còn là nguồn lợi nhuận của người trồng thương mại hóa. Về giá trị tinh thần Lúa đã gắn bó hơn vạn năm với người dân Việt Nam ta. Cây lúa đã đi vào thơ ca nhạc họa và đời sống tâm hồn của người Việt.           Như vậy, ta thấy rằng cây lúa chiếm giữ một phần lớn quan trọng trong đời sống của người dân chúng ta. Dù đã qua nhiều năm nhưng lúa vẫn không hề thay đổi. Cây lúa không chỉ đáp ứng nhu cầu sống của chúng ta mà còn trở thành một nét  đẹp trong đời sống văn hóa tinh thân của người Việt.

Đọc tiếp
Bởi Học văn cô Hà Huyền | 31/08/2023 0 bình luận

Văn học Việt Nam Giai đoạn 1945 đến 1975 1.Bối cảnh Khai sinh nước VN Dân chủ Cộng hòa 1945; toàn quốc kháng chiến chống Pháp 9 năm (1946-1954); chia cắt hai miền Nam – Bắc (1954-1975),kháng chiến chống Mỹ, tiến tới thống nhất đất nước (1964 - 1975) 2. Lực lượng sáng tác  Bao gồm: văn nghệ sĩ,trí thức: gia nhập Đảng, tham gia kháng chiến; nhà văn hóa,giáo dục 3. Khuynh hướng cảm hứng - Miền Bắc: cảm hứng lãng mạn công dân, tuyên truyền kháng chiến cứu nước 1945-1954; cuộc đấu tranh tư tưởng giữa khuynh hướng “tự do hóa văn nghệ” và “đảng cộng sản lãnh đạo, vào quỹ đạo VH XHCN” 1956-1964; khuynh hướng sử thi và lãng mạn 1965-1975 - Miền Nam: 1955-1975: đề cao chủ nghĩa quốc gia; thể hiện tinh thần phản kháng; tôn vinh truyền thống văn hóa dân tộc; tái hiện thân phận con người; văn học đại chúng; Đây là  thành tựu của  hiện đại hóa 4. Thể loại, ngôn ngữ Ở gia đoạn này thể loại chủ yếu là  thơ, trường ca, ký, tùy bút,  truyện vừa, truyện ngắn, tiểu thuyết. Một số tác phẩn tiêu biểu như: Vợ chồng A Phủ, Đòng Chí, Lặng lẽ Sa Pa, Đất nước… 5. Tác giả tiêu biểu - Văn học  kháng chiến chống Pháp: Quang Dũng 1921-1988, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Cầm, Tố Hữu, Nam Cao, Nguyễn Huy Tưởng, Tô Hoài, Trần Đăng; Hoàng Trung Thông, Chính Hữu, Nguyễn Thành Long - Văn học chống Mỹ: Nguyễn Thi, Lê Anh Xuân, Nguyễn Mỹ, Dương Thị Xuân Quý; Tố Hữu, Chế Lan Viên, Phạm Tiến Duật, Lưu Quang Vũ, Việt Phương; Dương Hương Ly, Vũ Quần Phương, Bằng Việt, Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn, Lâm Thị Mỹ Dạ, Hữu Thỉnh, Nguyễn Khoa Điềm, Hoàng Nhuận Cầm, Nguyễn Duy, Trần Đăng Khoa Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Quang Sáng, Phan Tứ, Nguyên Ngọc, Thu Bồn, Anh Đức, Chu Văn, Nguyễn Tuân

Đọc tiếp
zalo

Đăng ký sách

Mật khẩu của bạn được mã hóa. Ngoại trừ bạn, không ai có thể biết được mật khẩu của bạn.

Đăng ký khóa học

messenger